TIếNG VIệT

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ SỎI THẬN

Ngày 29.07.2025
Qua Admin

Sỏi thận là bệnh lý thường gặp nhất của đường tiết niệu. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, cơ thể mất nước nhiều, nên từ lâu đã được coi là một vùng dịch tễ sỏi. Khoảng 10-14% người Việt có sỏi trong thận. Tại Mỹ, khảo sát cho thấy có 7-10% người từng bị sỏi thận một lần trong đời mà không hề biết. Tỉ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới vào khoảng 3% dân số và khác nhau giữa các quốc gia. Đường tiết niệu cũng là cơ quan dễ tạo sỏi nhất trong các hệ cơ quan. Gồm: sỏi thận, sỏi NQ, sỏi BQ, sỏi NĐ trong đó sỏi thận chiếm tỷ lệ cao nhất (40 %).

Sỏi thận là bệnh lý sỏi tiết niệu thường gặp ở nam giới trung niên. Tuổi mắc bệnh thường từ 30 – 55 tuổi. Nam giới có cấu tạo đường tiết niệu phức tạp hơn nên sỏi thường khó tự đào thải như ở nữ giới

Dựa vào vị trí của viên sỏi trên hệ tiết niệu mà người ta cũng có thể gọi tên hoặc phân loại sỏi:

– Sỏi thận là sỏi tiết niệu nằm ở thận, gồm sỏi đài thận và sỏi bể thận.

– Sỏi niệu quản: do sỏi di chuyển từ bể thận xuống niệu quản và gây bế tắc đường tiết niệu.

– Sỏi bàng quang: 80% là do sỏi từ thận, niệu quản rớt xuống hoặc do bế tắc vùng cổ bàng quang, niệu đạo

– Sỏi niệu đạo: khi sỏi theo dòng nước tiểu từ bàng quang xuống niệu đạo, bị mắc kẹt tại đây.

Các loại sỏi thận. Sỏi ở hệ tiết niệu thường được phân loại theo thành phần hóa học bao gồm:

– Sỏi calcium là loại sỏi thường gặp nhất, chiếm 80-90%, gồm sỏi Calci Oxalat, Calci Phosphat. Calci Oxalat chiếm tỷ lệ cao ở các nước nhiệt đới như Việt Nam. Sỏi này rất cứng và cản quang, có hình dáng gồ ghề, màu vàng hoặc màu nâu

– Sỏi phosphat thường gặp là loại Magnésium Ammonium Phosphate hay còn gọi là sỏi nhiễm trùng, thường do nhiễm trùng niệu lâu ngày gây ra, đặc biệt là do vi khuẩn proteus.. Sỏi có màu vàng và hơi bở. Loại sỏi này thường rất lớn có thể lấp kín các đài bể thận gây ra sỏi san hô.

– Sỏi acid uric hình thành do quá trình chuyển hóa chất purine tăng trong cơ thể. Các nguyên nhân có thể làm tăng chuyển hoá purine như sử dụng nhiều thức ăn có chứa nhiều chất purine (như lòng heo, lòng bò, thịt cá khô, nấm…), hoặc bệnh nhân bị gout, hoặc sỏi hình thành do phân hủy các khối ung thư khi dùng thuốc hóa trị liệu.

– Sỏi cystine được hình thành do sai sót của việc tái hấp thu chất cystine ở ống thận. Sỏi này tương đối ít gặp ở Việt Nam. Sỏi cystine là sỏi không cản quang, có bề mặt trơn láng.

Nguyên nhân gây bệnh sỏi thận

Có nhiều nguyên nhân gây ra sỏi thận, bắt đầu từ sự kết tinh, lắng đọng tinh thể trong hệ tiết niệu. Theo các chuyên gia, sỏi tiết niệu hình thành có thể do nước tiểu có chứa quá nhiều hóa chất, điển hình là calci, acid uric, cystine… 85% số lượng sỏi hình thành bắt đầu từ sự lắng đọng canxi.

Các nguyên nhân cụ thể được chỉ ra là:

– Uống không đủ nước: Cơ thể không đủ nước cho thận bài tiết, nước tiểu quá đặc. Nồng độ các tinh thể bị bão hòa trong nước tiểu.

– Chế độ ăn nhiều muối: Đây là nguyên nhân thường gặp ở người Việt, khẩu vị của người Việt khá mặn. Muối và nước mắm là gia vị quen thuộc hàng ngày… Ăn nhiều muối (NaCl), cơ thể phải tăng đào thải Na+, tăng Ca++ tại ống thận… Do đó, sỏi Calcium dễ hình thành.

– Chế độ ăn nhiều đạm: Đạm trong đồ ăn làm tăng nồng độ pH nước tiểu, tăng bài tiết Calcium và lại làm giảm khả năng hấp thu Citrate.

– Nạp bổ sung Calcium, Vitamin C sai cách: Chúng ta bổ sung vi chất quá nhiều, dẫn đến tình trạng cơ thể thừa chúng. Đối với Vitamin C, khi chuyển hóa thành gốc Oxalat. Còn ion Ca++ sẽ cạnh tranh và ức chế việc hấp thu các ion khác như Ze++, Fe++,… Khi thận quá thừa các chất sẽ bị quá tải, đương nhiên sẽ tăng nguy cơ hình thành sỏi tại đây.

Hậu quả của bệnh lý đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày, tiêu chảy… cũng có thể hình thành sỏi Calci Oxalat. Tiêu chảy làm mất nước, mất các ion Na+ K+,… giảm lượng nước tiểu; nồng độ Oxalat trong nước tiểu tăng,… từ đó dễ hình thành sỏi.

– Yếu tố di truyền: Bệnh cũng có thể do gen trong gia đình. Nguy cơ mắc bệnh trong các thành viên cùng huyết thống, cao hơn bình thường.

Ở những người bẩm sinh hoặc mắc phải, có dị dạng đường tiết niệu, khiến đường tiểu bị tắc nghẽn ví dụ do Phì đại tuyến tiền liệt, túi thừa trong bàng quang, u xơ tiền liệt tuyến…. Một số bệnh nhân chấn thương, lâu ngày không di chuyển được. Đường tiết niệu tắc nghẽn làm nước tiểu, mà tích trữ lâu ngày, lắng đọng sinh ra sỏi thận.

Nhiễm trùng đường tiết niệu. Vi trùng xâm nhập, gây viêm đường tiết niệu dai dẳng, tạo ra mủ, lắng đọng các chất bài tiết lâu ngày cũng là nguyên nhân gây sỏi ở thận

– Béo phì: Theo một số nghiên cứu, nguy cơ mắc bệnh của người béo phì sẽ cao hơn người bình thường.

Biến chứng của sỏi thận

Khi sỏi bị vướng lại ở bên trong đường tiết niệu, nó sẽ ảnh hưởng đến đường tiết niệu qua 3 giai đoạn:

– Giai đoạn chống đối

– Giai đoạn này, phần trên đường tiết niệu vướng sỏi sẽ gia tăng co bóp để đẩy viên sỏi ra ngoài. Niệu quản và bể thận phía trên đều chưa bị giãn nở. Có sự tăng áp lực đột ngột đài bể thận gây cơn đau quặn thận. Trên lâm sàng ở giai đoạn này bệnh nhân thường biểu hiện bởi những cơn đau bão thận điển hình.

– Giai đoạn giãn nở

– Giai đoạn này là hệ quả của giai đoạn chống đối. Sau khoảng 3 tháng mà không đẩy được sỏi ra ngoài, niệu quản, bể thận và đài thận ở trên vị trí tắc sẽ bị giãn nở. Nhu động niệu quản bị giảm

– Giai đoạn biến chứng

– Viên sỏi lâu không di chuyển do bị bám dính vào niêm mạc. Niệu quản bị xơ dày, có thể bị hẹp lại. Giai đoạn này, chức năng thận sẽ bị suy giảm dần. Thận bị ứ nước. Và nếu có nhiễm trùng sẽ còn có tình trạng ứ mủ.

– Sỏi còn tồn tại trong đường tiết niệu, là một yếu tố thuận lợi cho việc tái nhiễm trùng. Để lâu ngày, sẽ gây viêm thận bể thận mạn tính và dẫn đến suy thận mạn tính.

Chẩn đoán sỏi thận

Lâm sàng : Dấu hiệu của bệnh sỏi thận

Triệu chứng của bệnh sỏi thận hoàn toàn là do biến chứng của viên sỏi gây ra với hệ tiết niệu, chứ không phải do hòn sỏi gây ra.

– Cơn đau quặn thận

Biểu hiện rõ ràng nhất khi thận có sỏi là chúng gây đau dữ dội, đến mức người ta gọi đó là “cơn đau bão thận” hoặc “cơn đau quặn thận”.

Sỏi gây đau ở vùng hố thắt lưng một bên, lan ra phía trước, xuống dưới. Đó là khi khởi phát, xuất hiện rất đột ngột, sau khi có một hoạt động gắng sức. Sau đó cường độ đau mạnh hơn. Người bệnh thường đau quằn quại, vật vã để tìm một tư thế giảm đau nhưng không được.

Khi gặp triệu chứng này, người bệnh cần phải đến ngay cơ quan y tế, bệnh viện để các bác sĩ thực hiện các biện pháp giảm cơn đau do sỏi thận, tuyệt đối không được tự ý thực hiện tại nhà.

Triệu chứng đi kèm theo cơn đau sỏi thận là buồn nôn, nôn mửa, chướng bụng do liệt ruột. Bệnh nhân có thể bị sốt, rét run nếu có nhiễm trùng tiết niệu kết hợp. Khi bác sĩ khám, có thể thấy điểm sườn lưng đau. Các điểm niệu quản bị ấn cũng có cảm giác đau, và có thể thấy thận lớn.

Không có sự liên quan giữa kích thước hay số lượng viên sỏi với việc xuất hiện và cường độ đau của cơn đau quặn thận. Một số trường hợp như Sỏi thể yên lặng, người bệnh hoàn toàn không có triệu chứng đau, hoặc đau không rõ ràng như ê ẩm vùng thắt lưng một hoặc hai bên…

– Tiểu ra máu

Các trường hợp sỏi có bề mặt nhám, gai san hô… khi cọ xát vào đường tiểu thì gây tiểu ra máu. Bình thường sỏi thận không gây ra hiện tượng này. Tuy nhiên, do bệnh nhân hoạt động nhiều, hoặc vận động mạnh thì gây tiểu ra máu.

– Bế, tắc đường tiểu

Đường tiểu như một ống nước, hòn sỏi xuất hiện gây ra tình trạng tắc nghẽn, bế tắc. Bao gồm bí tiểu, bế tắc thận, thận ứ nước căng to.

Xét nghiệm cận lâm sàng

          Để chẩn đoán bệnh sỏi thận một cách chính xác và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả, bệnh nhân sẽ phải thực hiện nhiều biện pháp xét nghiệm cận lâm sàng đó là:

Xét nghiệm máu: xét nghiệm máu có thể phát hiện tình trạng thừa canxi hoặc acid uric máu, ngoài ra có thể đánh giá xem chức năng thận của bệnh nhân đã bị ảnh hưởng hay chưa thông qua đánh giá chỉ số ure, creatinin máu.

Xét nghiệm nước tiểu: đánh giá sự bài tiết các khoáng chất hình thành sỏi hoặc chất ức chế tạo sỏi, thường bệnh nhân sẽ được hướng dẫn lấy nước tiểu 24 giờ để làm xét nghiệm này. Ngoài ra xét nghiệm nước tiểu cũng đánh giá được tình trạng tiểu máu hoặc nhiễm trùng tiết niệu đi kèm thông qua các chỉ số như bạch cầu, hồng cầu, nitrit.

Chụp X-quang ổ bụng không chuẩn bị: Có thể phát hiện các sỏi cản quang trên ở thận, niệu quản và bàng quang.

Chụp thận tĩnh mạch (IVP) hay còn gọi là chụp X-quang hệ tiết niệu bằng đường tĩnh mạch: giúp đánh giá cấu trúc của hệ tiết niệu từ thận xuống tới bàng quang, chẩn đoán được sỏi tiết niệu đồng thời đánh giá được sự bài tiết của thận thông qua thì tiêm thuốc.

Siêu âm ổ bụng: nhanh chóng, không xâm lấn và an toàn, có thể sử dụng ở hầu hết các cơ sở bệnh viện, phòng khám, giúp đánh giá vị trí, hình dạng, kích thước sỏi và các biến chứng có thể có như giãn niệu quản, ứ nước đài bể thận.

Chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu: đánh giá chính xác vị trí, kích thước, độ cứng của sỏi thận và sỏi niệu quản, giúp kiểm tra sự tắc nghẽn của đường tiết niệu cũng như đánh giá được lưu lượng tưới máu thận.

Cộng hưởng từ MRI: Chỉ định hạn chế để phát hiện sỏi. Có vai trò trên các đối tượng như phụ nữ có thai. Cung cấp các chi tiết về giải phẫu, vị trí tắc nghẽn, đánh gia nhu mô thận cũng như các bệnh phối hợp

Các phương pháp điều trị sỏi

    Việc lựa chọn phương pháp điều trị dựa trên nhiều yếu tố như: tính chất sỏi: kích thước, số lượng, vị trí, thành phần sỏi; giải phẫu thận : bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản, thận móng ngựa, thận lạc chỗ, thận độc nhất, thận ứ nước, túi thừa đài thận,…; sức khỏe tổng thể bệnh nhân : trẻ em,  phụ nữ có thai, béo phì, rối loạn đông máu, tình trạng nhiễm khuẩn đường tiểu;…

Theo dõi và điều trị nội khoa

Điều trị nội khoa thất bại khi có ít nhất một trong các tình huống sau:

– Điều trị nội khoa 4 – 6 tuần mà sỏi không có dấu hiệu di chuyển (qua 2 lần chụp KUB).

– Bệnh nhân cảm thấy khó chịu, đau đớn không lao động được, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống và chất lượng sống của bệnh nhân.

Can thiệp ngoại khoa

– Sỏi thận tiến triển (sỏi tăng kích thước > 5mm ở những lần tái khám theo dõi).

– Sỏi thận gây tắc nghẽn.Nhiễm khuẩn niệu.

– Sỏi thận gây triệu chứng: đau, tiểu máu … không đáp ứng với điều trị nội khoa.

– Sỏi thận > 15mm hoặc < 15mm nhưng quá chỉ định theo dõi và điều trị nội.

– Hoàn cảnh nghề nghiệp hay chọn lựa điều trị của bệnh nhân.

    A/ ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA.

  • Trong trường hợp cấp cứu:

– Bệnh nhân vô niệu hay thiểu niệu: xét nghiệm urê, creatinine tăng cao, kali máu tăng cao. Trong trường hợp này cần phải chạy thận nhân tạo trước, để bệnh nhân ổn định. Sau đó, chụp CT scan và quyết định phẫu thuật lấy sỏi tuỳ theo vị trí sỏi.

– Bệnh nhân sốt cao có hội chứng nhiểm trùng nặng hay thận ứ mủ: Trong trường hợp này cần phải hồi sức bệnh nhân tích cực: kháng sinh, truyền dịch, hạ sốt, giảm đau và mổ cấp cứu dẩn lưu thận ra da, đặt sonde jj thận niệu quản bàng quang tạm thời, đợi khi nào bệnh nhân ổn định sẽ phẫu thuật lấy hết sỏi sau đó.

  • Trong những trường hợp không cấp cứu:

– Điều trị nội khoa nhằm mục đích tổng sỏi ra ngoài cơ thể như các thuốc kháng viêm và giãn cơ đường tiết niệu.

– 95% sỏi có kích thước ≤ 4 mm sẽ tự đào thải ra ngoài trong 40 ngày.

– 75% sỏi < 5 mm và 62% sỏi ≥ 5 mm sẽ tự đào thải ra ngoài trong 17 ngày . Sỏi > 6mm tỉ lệ đào thải 20 %.

– Điều trị nội khoa khoảng 2 tuấn kiểm tra lại vẫn còn sỏi, gây đau thì nên can thiệt ngoại khoa

B/ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA.

Tán sỏi ngoài cơ thể : ESWL( extracoporeal shock wave lithotripsy) Hiện nay khoảng 75-80% (Trần Đức Hoè) sỏi thận được điều trị  bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể. Đây được coi là phương pháp điều trị ít xâm hại và hiệu quả nhất hiện nay. Tuy nhiên do giá thành của máy tán sỏi ngoài cơ thể còn cao nên chỉ có một số trung tâm y khoa lớn mới có trang bị

Chỉ định: sỏi thận đường kính ≤ 20 mm

Chống chỉ định:

– Sỏi quá cứng hoặc quá mềm

– Nhiễm trùng niệu.

– Hẹp đường tiết niệu.

– Bệnh lý rối loạn đông cầm máu, đang dùng thuốc chống đông.

– Dị dạng cột sống.

– Đang đeo máy tạo nhịp tim.

Tán sỏi thận qua da: PCNL (percutaeaus nephrolithiotripsy)

Hiện nay PCNL được chỉ định rộng rãi cho các trường hợp sỏi thận phức tạp, sỏi có kích thước lớn, sỏi san hô, sỏi kèm bất thường giải phẫu học phức tạp trong thận. Tỉ lệ sạch sỏi sau cùng có thể đạt 91% đến 95%. Ưu điểm PCNL so với mổ mở: Vết mổ nhỏ( <1cm), phục hồi nhanh sau phẫu thuật, thời gian nằm viện ngắn, bảo tổn chức năng thân tốt, chất lượng cuộc sống tốt hơn.

  • Chỉ định:

– Sỏi thận kích thước lớn > 2 cm

– Sỏi san hô hay bán san hô

– Sỏi sót hay tái phát sau phẫu thuật

  • Chống chỉ định:

– Nhiễm trùng niệu.

– Rối loạn đông máu.

Nội soi tán sỏi ngược chiều bằng ống soi mềm:

– Nội soi tán sỏi ngược chiều bằng ống soi mềm là kỹ thuật dùng ống soi mềm đi từ lỗ tiểu qua đường niệu đạo vào bàng quang lên niệu quản và thận để tiếp cận trực tiếp và dùng laser tán vụn sỏi, sau đó bơm rửa và gắp sỏi vụn ra ngoài.

– Ưu điểm của phương pháp nội soi ống mềm tán sỏi là nội soi theo đường tự nhiên, không có vết mổ, bệnh nhân hồi phục nhanh và xuất viện sớm. Tuy nhiên giá thành của phương pháp này khá cao.

  • Chỉ định:

– Sỏi thận nằm cao trong niệu quản hoặc bể thận.

– Sỏi niệu quản ⅓ trên hoặc sỏi thận kích thước dưới 2cm.

– Sỏi niệu quản có kích thước khoảng 1,5cm.

– Cần hỗ trợ lấy mảnh sỏi vụn còn sót.

– Người bệnh sau khi được điều trị tán sỏi ngoài cơ thể không thành công.

  • Chống chỉ định:

– Hẹp niệu quản, niệu đạo.

– Niệu quản gấp khúc.

– Nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

– Thận hoặc niệu quản dị dạng

  1. MỔ MỞ:

         Hiện nay còn chiếm khoảng 1- 5,4%(guideline 2006) ở các trung tâm lớn. Mổ mở lấy sỏi thận  vẫn còn là phương pháp căn bản nhất để điều trị sỏi thận, đặc biệt ở những trung tâm niệu khoa chưa có trang bị máy tán sỏi ngoài cơ thể và tán sỏi qua da. Tuy nhiên phương pháp này có nhiêù tai biến và biến chứng, và bệnh nhân phải chịu một vết mổ dài.

  • Chỉ định:

– Sỏi phức tạp.

– Sỏi thận điều trị nội khoa,EWSL,PCNL thất bại.

– Sỏi thận với bất thường giải phẩu như: hẹp cổ bể thận, hẹp khúc nối..

– Sỏi trên người béo phệ nặng.

– Sỏi ở cực dưới thận hay thận mất chức năng

– Sệnh nhân chọn lưạ điều trị môt lần cho hết sỏi.

– Sỏi ở thận ghép

– Sỏi ở thận lạc chổ.

– Sỏi lớn ở trẻ em

  • Nguyên tắc mổ lấy sỏi thận:

– Lấy tối đa sỏi có thể

– Hạn chế tối đa tổn thương nhu mô thận.

– Bảo tồn thận tối đa

– Ít gây tai biến, biến chứng trong khi mổ.

– Tránh gây tái phát sỏi (làm lưu thông tốt đường niệu).

  1. PHÒNG NGỪA SỎI THẬN

        Phòng ngừa sỏi tiết niệu là phòng ngừa, tránh các yếu tô thuận lợi cho sỏi hình thành

– Uống nhiều nước: Uống nhiều nước có tác dụng pha loãng các chất trong nước tiểu có thể hình thành sỏi. Uống nước làm soa đi tiểu được khoảng 2 lít một ngày. Có thể tăng cường thêm nước chanh hay nước cam. Citrate trong những thức uống này có tác dụng ngăn ngừa tạo sỏi.

– Ăn đủ các chất can-xi: Nếu ăn ít chất can-xi có thể làm cho chất oxalate trong cơ thể tăng cao và gây sỏi thận. Để tránh tình trạng này hãy đảm bảo ăn đủ chất can-xi theo nhu cầu lứa tuổi của bạn. Lý tưởng nhất là tiêu thụ chất can-xi từ thức ăn, vì theo vài nghiên cứu bổ sung can-xi bằng thuốc có thể gây sỏi niệu. Đàn ông 50 tuổi trờ lên nên bổ sung 1000 milligram can-xi một ngày kèm với 800 tới 1000 đơn vị vitamin D để giúp cơ thể hấp thu can-xi.

– Hạn chế ăn muối: Một chế độ ăn nhiều muối có thể làm tăng nguy cơ tạo thành sỏi tiết niệu vì tăng chất can-xi trong nước tiểu. Vì vậy ở người có nguy cơ tạo sỏi niệu nên ăn lạt , hạn chế muối. Hướng dẫn điều trị mới nên tiêu thụ muối tối đa hàng ngày 2.300 mg, nhưng nếu trước đây có sỏi nên hạn chế muối còn 1.500 mg. Điều này cũng tốt cho tim cũng như cho huyết áp của bạn.

– Hạn chế đạm động vật: Ăn nhiều đạm động vật như là thịt đỏ, gia cầm, trứng và hải sản có thể làm tăng acid uric trong cơ thể làm tăng nguy cơ tạo sỏi thận. Một chế độ ăn tăng đạm sẽ làm giảm citrate, một chất trong nước tiểu có tác dụng ngăn ngừa hình thành sỏi niệu. Nếu bạn dễ nguy cơ tạo sỏi thì hãy hạn chế chất đạm, nó cũng tốt cho tim.

– Tránh thức ăn có thể tăng nguy cơ tạo sỏi: Củ cải đường, sô-cô-la, rau spina, trà và hầu hết đâu phụng giàu chất oxalate, cola giàu phosphate. Những thức ăn này làm tăng nguy cơ hình thành sỏi. Nếu bạn có sỏi bạn nên tránh những thức ăn này hay ăn ít thôi. Với một số người những thức ăn như trên không tăng nguy cơ tạo sỏi trừ khi quá nhiều. Vài nghiên cứu cho thấy rằng nếu bổ sung nhiều vitamin C cũng làm tăng nguy cơ tạo sỏi vì cơ thể sẽ chuyển hóa vitamin C thành oxalate.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Văn Sáng(1996), “sỏi tiết niệu”, bài giảng bệnh học niệu khoa, nhà xuất bản cà mau, trang 83-129.
  2. Nguyễn Bửu Triều (2003), “sỏi thận”, bệnh học tiết niệu, nhà xuất bản y học, trang 233-252.
  3. Ngô Gia Hy (1980), “sỏi thận”, niệu học , nhà xuất bản y học, tập 1, trang 86-109.
  4. Trần Đức Hoè (2003), “phẫu thuật lấy sỏi thận”, những kỹ thuật ngoại khoa trong tiết niệu, nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, trang 216-233.
  5. EAU Guideline 2006.
  6. M, Resnick. M.I (2002), “urinary lithiasis:etiology,diagnosis,and medical management”, campbell’s urology, eigth edition, published by saunders W.B.Company, vol 4 , page: 3229-3292.

Stoller M (2004). “Urinary stone disease”, Smith’s general urology, M.G Hill  Companies, pp: 256-290.

TIN TỨC

Tin tức Hoạt động

Ngày 25.08.2025

THỰC PHẨM NGƯỜI BỆNH HEN SUYỄN & COPD NÊN CẨN TRỌNG

Đối với người bệnh hen suyễn và Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống

Ngày 14.08.2025

VIÊM XOANG VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Xoang là những khoang khí nằm ở cạnh mũi, trong các xương sọ - mặt, bên trong được lót bởi niêm mạc và chứa không khí, có các lỗ thông xoang vào hốc mũi

Ngày 08.08.2025

TĂNG HUYẾT ÁP – KẺ GIẾT NGƯỜI THẦM LẶNG CẦN ĐƯỢC KIỂM SOÁT

Tăng huyết áp (hay cao huyết áp) là tình trạng áp lực máu trong động mạch cao hơn mức bình thường, khiến tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu đi khắp cơ thể

Ngày 02.08.2025

NGỪNG TIM ĐỘT NGỘT Ở NGƯỜI LỚN TUỔI – HÀNH ĐỘNG NHANH CHÓNG ĐỂ CỨU SỐNG

Ngừng tim là một trong những tình trạng y tế khẩn cấp và nguy hiểm nhất, đe dọa trực tiếp đến tính mạng.